Tác giả Anh-MỹVăn chương

William Shakespeare – Làm chính trị bằng ngôn ngữ và hoài nghi

Chịu ảnh hưởng của phong trào Phục Hưng ở Florence, nước Anh cũng chuyển mình nhưng sự chuyển mình này không đến từ những người lãnh đạo vương quốc Anh mà đến từ các học giả. Các học giả tại Anh cuối thế kỷ 16 đã tạo ra một cuộc vận động xã hội không phải bằng vũ lực và chính trị mà bằng tri thức với khoa học, ngôn ngữ và nghệ thuật. Trong số các học giả thời bấy giờ đáng kể phải nhắc tới hai tên tuổi lớn là William Shakespeare và Sir Francis Bacon. Nếu Sir Francis Bacon tác động đến chính trị bằng tri thức khoa học và triết học thì William Shakespeare lại đặt những nền móng quan trọng trong ngôn ngữ và nghệ thuật. Phạm vi ảnh hưởng của họ không chỉ dừng lại ở quốc gia của mình mà có độ phổ lớn trên toàn bộ thế giới phương Tây mà cho đến nay chúng ta vẫn tiếp tục chịu ảnh hưởng.

Mật độ quan tâm đến Shakespeare ở Mỹ là rất cao

 

Tại Vương Quốc Anh, tuy mật độ tìm kiếm về William Shakespeare không được như Mỹ nhưng vẫn ở mức cao.

 

Tại Pháp, một đất nước luôn tự hào về nên văn học của mình, mật độ tìm kiếm về Shakespeare cũng rất cao, thậm chí còn hơn Anh.

Ở các nước phương Tây, việc nghiên cứu William Shakespeare vẫn là một chủ đề quan trọng trong nhiều lĩnh vực, không chỉ văn học và nghệ thuật mà còn ngôn ngữ, chính trị, triết học, tâm lý học thậm chí là pháp luật. William Shakespeare cũng không phải là tác giả chỉ dành riêng cho giới học thuật, các tác phẩm của ông vẫn được bán phổ biến và tái bản nhiều lần tại các nước Âu – Mỹ. Tại Đông Nam Á, Phillipines là quốc gia có lượng người quan tâm đến William Shakespeare nhiều nhất trong khi Việt Nam có lượng người quan tâm khá thấp. Lượng tìm kiếm qua google liên quan tới William Shakespeare tại Việt Nam chỉ xếp thứ tự trong quãng từ 65 đến 70 so với trên toàn thế giới.

Việt Nam có mật độ người quan tâm đến Shakespeare ở mức thấp

 

 

Cận cảnh mật độ quan tâm đến Shakespeare ở Việt Nam cho thấy lượng tìm hiểu chỉ chủ yếu tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

 

Tại Phillipines, một quốc gia hỗn loạn tại Đông Nam Á, mật độ tìm kiếm về Shakespeare cũng rất cao, thuộc top đứng đầu. Đây là tình trạng hoàn toàn tương phản với Việt Nam.

Nếu William Shakespeare đơn giản chỉ là một nhà văn Anh thì có lẽ trong suốt 400 năm nay người ta không cần phải bận tâm tới ông nhiều đến vậy. Những đóng góp của William Shakespeare không chỉ đơn giản là những vở kịch và nếu chúng ta tìm hiểu về sự nghiệp của ông một cách kỹ lưỡng ta có thể thấy rằng ông thực sự đã sáng tác văn chương để thay đổi xã hội. Nếu chúng ta đọc kịch Shakespeare mà chỉ quan tâm tới các vẻ đẹp ngôn từ và cấu trúc kịch mà không hiểu các khía cạnh triết học và chính trị trong đó thì chúng ta chưa thực sự đọc ông. Tuy nhiên, để hiểu được các khía cạnh triết học và chính trị ẩn đằng sau lớp ngôn từ thật chẳng dễ dàng gì, đặc biệt là đối với con người hiện đại đã quá quen với các phát ngôn trực tiếp.

Muốn hiểu được phần nào các khía cạnh triế học và chính trị ẩn dưới vẻ đẹp ngôn từ của Shakespeare, ta cần phải biết về hoàn cảnh mà trong đó sự nghiệp của ông đã nảy nở. Đó là những năm tháng dưới sự cai trị của nữ hoàng Elizbeth I, khi Luân Đôn đã là một đô thị rất sầm uất ở Châu Âu cùng với sự tồn tại của hai trường đại học lớn ở Oxford và Cambridge. Lúc này, kịch bình dân nở rộ và được nhiều quý tộc bảo trợ song song tồn tại với các cây viết hàn lâm tốt nghiệp từ Oxford và Cambridge với sự nghiên cứu kỹ lưỡng về kịch Hy Lạp, La Mã. William Shakespeare đã làm một gạch nối quan trọng khi kết hợp các yếu tố dân gian phổ biến trong xã hội bình dân thế kỷ 16 với các hình thức văn chương và kịch nghệ hàn lâm được truyền dạy nhờ vào sự lớn mạnh của phong trào Phục Hưng. Với một nền tảng học thuật tốt và các đô thị sầm uất, nước Anh trở thành nơi ghé thăm của nhiều học giả Châu Âu vĩ đại, nhờ thế mà ta có thể thấy trong kịch Shakespeare có chứa một khối lượng kiến thức khổng lồ bao gồm văn hóa dân gian, tôn giáo, triết học, khoa học, lịch sử…v…v… Cùng lúc với sự nở rộ về nghệ thuật ấy, nền chính trị Anh lại ở trong tình trạng u tối với chiến tranh liên miên, sự lộng quyền của giáo hội và các vụ tử hình đẫm máu. Tất cả những yếu tố ấy đã làm nên chiều sâu bên trong kịch Shakespeare và khiến kịch cũng như thơ của ông bột phát toàn bộ nỗi đau, niềm đam mê và cảm xúc của thời đại.

Những đóng góp trong nghệ thuật và ngôn ngữ

Vào cuối thế kỷ 16, thơ ca và kịch nghệ nở rộ ở nước Anh mà William Shakespeare là đỉnh cao của thời đại ấy. Trước ông, các cây bút khác như Sir Edmund Spenser, Sir Philip Sidney, Thomas Campion đã có những sáng tác hoàn hảo về bút pháp và thể loại dù chủ đề không được phong phú bằng. Những sáng tác thơ này rất có tính nhạc điệu do vậy khá phổ biến, đặc biệt là của Thomas Campion. Còn về kịch nghệ, các kịch tác gia của Anh cùng thời với Shakespeare đều chịu ảnh hưởng bởi kịch La Mã mà Shakespeare cũng ở trong số đó. Nhà ngôn ngữ học và từ điển học John Florio (1553 – 1625) có thể nói là một người bạn thân có ảnh hưởng tới William Shakespeare, đã mang ngôn ngữ La Mã đến với văn hóa Anh. Ông đã dịch Montaigne sang tiếng Anh và có lẽ chính những tiểu luận của Montaigne đã ảnh hưởng lớn đến quan điểm chính trị, triết học và nghệ thuật của Shakespeare. Bên cạnh đó, Bi kịch Tây Ban Nha (1592) của Thomas Kyd cũng tạo ra một thể loại mới trong kịch nghệ của Anh. Các vở kịch của Euripides cũng được dịch sang tiếng Anh bởi Jane Lumley (1537 -1578), nhờ thế mà kịch của Anh thờ Phục Hưng có cái không khí anh hùng ca bi tráng.

Trong thời đại rực rỡ của tinh thần học thuật và sáng tạo ấy, William Shakespeare  đã thừa hưởng thành quả và sáng tạo thêm các giá trị mới. Trong số các nghệ sĩ lúc bấy giờ, William Shakespeare có khối lượng trước tác khổng lồ nhất. Các trước tác của ông có thể chia ra thành 5 nhóm, trong đó có 3 nhóm kịch và 2 nhóm thơ, bao gồm: Bi kịch, Hài kịch, kịch lịch sử, thơ sonnet, truyện thơ.

Bản lưu đầu tiên trong số các vở kịch của Shakespeare là “Richard III” và ba phần của vở “Henry VI” được viết vào đầu thập niên 1590s, thuộc thể tài kịch lịch sử. Những vở kịch này tuân thủ các chi tiết lịch sử được ghi chép kết hợp với thủ pháp bi kịch đã tạo nên một không khí kịch bi tráng và cấu trúc phức tạp của các âm mưu trong cung đình cũng như trong chiến tranh.

Một cảnh trong vở “Richard III” được diễn tại Lisbon, Bồ Đào Nha năm 2015.

Hài kịch của Shakespeare xuất hiện muộn hơn, có lẽ được sáng tác vào giữa thập niên  1590s, kết hợp giữa các yếu tố lãng mạn, truyền thuyết dân gian và yếu tố hài hước tiếp thu từ hài kịch La Mã. Điển hình nhất là trong vở “Giấc mộng đêm hè” (A Midsummer Night’s Dream). Vở hài kịch sau đó của Shakespeare là vở hài kịch lãng mạn “Lái buôn thành Venice” (Merchant of Venice) với bút pháp khắc họa tính cách nhân vật rất độc đáo. Sau đó là “Much Ado About Nothing” và “As You Like It”. Tuy nhiên, vở hài kịch xuất sắc nhất phải kể đến đó là “Đêm thứ mười hai” (Twelfth Night). Shakespeare còn đưa các yếu tố hài hước vào câu thoại của kịch lịch sử, đặc biệt trong các vở như “Richard II”, “Henry IV” (Phần 1 và 2), và “Henry V”. Sáng tạo này của Shakespeare đã tạo ra một sự phức hợp giữa tính chất nghiêm túc của kịch lịch sử và sự hài hước khiến kịch của ông trở nên phức tạp và đa chiều hơn các kịch tác gia cùng thời.

Bức tranh của William Blake lấy cảm hứng từ một cảnh trong vở “Giấc mộng đêm hè” của William Shakespeare

Sau kịch lịch sử và hài kịch, Shakespeare bắt đầu sáng tác bi kịch. Mở đầu là “Romeo và Juliet” và “Julius Caesar”. Đây là hai vở kịch tình yêu vừa gợi cảm vừa thấm đẫm nước mắt. Tác phẩm bi kịch xuất sắc nhất của Shakespeare có lẽ là “Hamlet” với nhân vật chàng hoàng tử giả điên. Đây là vở kịch gây tranh  cãi nhất trong số các nhân vật của Shakespeare. Câu thoại nổi tiếng “To be or not to be, that is the question” là câu thoại được trích dẫn nhiều nhất với hàm ý triết học hoài nghi điển hình. Sau đó là đến “Othello” và “King Lear”, những bi kịch có nguyên cớ từ các phán quyết sai lầm. Còn trong “Macbeth”, vở bi kịch ngắn nhất của Shakespeare nhưng lại là vở bi kịch ảm đạm nhất, đau thương nhất, bi kịch nảy sinh do những tham vọng quyền lực dẫn đến tội lỗi và con người chìm trong nỗi đau về tội lỗi của chính mình. Đây là vở bi kịch đầu tiên của Shakespeare có sử dụng yếu tố siêu nhiên. Hai vở bi kịch cuối cùng của Shakespeare chính là “Antony và Cleopatra” và “Coriolanus”. Theo như T.S Eliot nhận định thì đây là hai vở bi kịch thành công nhất.

Một cảnh trong bộ phim “Hamlet” được dựng từ kịch của Shakespeare vào năm 1948

Những tác phẩm cuối đời của Shakepeare lại có xu hướng lãng mạn hoặc bi hài kịch, bao gồm “Cymbeline”, “The Winter’s Tale”, “The Tempest”, “Pericles, Prince of Tyre”. Thủ pháp thanh điệu trong bốn vở kịch này điêu luyện hơn các vở hài kịch trong thập niên 1590s nhưng cái kết của chúng đều hướng tới sự tha thứ và hòa giải.

Trong hai năm 1593 và 1594, khi nhà hát của Shakespeare bị đóng cửa vì bệnh dịch hạch, ông đã xuất bản hai truyện thơ về các chủ đề tình yêu và tình dục là “Venus and Adonis” và “The Rape of Lucrece”. Hay truyện thơ này ông dành tặng riêng cho Henry Wriothesley, Bá tước Southampton. Cả hai truyện thơ này đều cho thấy những lầm lạc về tinh thần do hậu quả của những ham muốn không thể kiểm soát. Sau đó là các truyện thơ  “A Lover’s Complaint”, “The Phoenix and the Turtle”.

Những bài Sonnet của Shakespeare được xuất bản vào năm 1609 và cũng là tác phẩm thơ cuối cùng của ông được in. Số lượng bài Sonnet không được khẳng định chắc chắn nhưng ước tính khoảng 154 bài, các bài đều được sáng tác rong suốt cả đời của ông. Các bài Sonnet có chủ đề rất đa dạng nhưng chủ yếu đều xoay quanh những cảm thức của Shakespeare về tình yêu, dục vọng, thời gian và cái chết.

Từ năm 1594, những vở kịch Shakespeare được trình diễn bởi đoàn kịch Lord Chamberlain’s Men, và nhanh chóng trở thành đoàn kịch hàng đầu ở Luân Đôn lúc bấy giờ. Sau cái chết của Nữ hoàng Elizabeth I, đoàn kịch được trao tặng chứng nhận hoàng gia bởi chính vua James I và từ đó được đổi tên thành đoàn kịch “King’s Men”. Ở thời đại của mình, những tác phẩm của Shakespeare đã tạo một cú shock lớn với xã hội Anh và nền chính trị Anh bấy giờ. Các vở kịch truyền một cảm hứng tự do và sự chán ghét với các cuộc tranh giành quyền lực, sự suy thoái đạo đức và tinh thần. Sâu sắc hơn thế, các lời thoại của Shakespeare tràn ngập đam mê đan xen với tinh thần hoài nghi mãnh liệt đã tạo ra những cú huých tinh thần với người xem cho dù thuộc giới hàn lâm hay bình dân.

Cho đến nay, về mặt chính thống, các tác phẩm nghiên cứu về William Shakespeare vẫn coi ông là một nhà buôn có xuất thân từ nông dân ở vùng Stratford-upon-Avon. Ông đóng vai trò như một người sở hữu đoàn kịch King’s Men, một diễn viên kèm biên kịch. Tuy nhiên, do các vở kịch của Shakespeare có quá nhiều các yếu tố hàn lâm mà một thường dân thời đó không thể có được (ví dụ như tư liệu lịch sử, bút pháp trong các thể thơ phức tạp, các kiến thức đa dạng về tôn giáo và khoa học…v…v…) nên các học giả bắt đầu nghi hoặc về thân phận thật sự của William Shakespeare. Nhiều học giả cho rằng William Shakespeare là một bút danh chung của các học giả quý tộc cuối thế kỷ 16 sử dụng để sáng tác kịch và thơ, tránh các ràng buộc của nhà thờ và hoàng gia Anh, trong số đó có cả Sir Francis Bacon, Christopher Marlow, William Stanley – bá tước vùng Derby và Edward de Vere – bá tướng vùng Oxford.

Trong số ấy, Edward de Vere (1550 – 1604), bá tước vùng Oxford là giả thuyết được nhiều học giả tin cậy là tác giả của kịch Shakespeare hơn cả. . Nghi vấn này được dựng lại như một giả thuyết lịch sử trong bộ phim “Anonymous” (2011). Edward de Vere có thân phận cao quý với vị trí là người thừa kế thứ hai trong triều đình Elizabeth. Ông dành nhiều tâm sức và tiền bạc để đầu tư vào nghệ thuật đồng thời cũng là nhà thơ và nhà soạn kịch cung đình. Tuy nhiên, do tính cách phóng túng và liều lĩnh của mình, Edward de Vere đã không đảm nhận vai trò chính trị của mình, rồi sau đó là tiêu tán toàn bộ tài sản thừa kế. Giả thuyết cho rằng Edward de Vere mới là tác giả đích thực của những vở kịch Shakespeare được đưa ra vào những năm 1920s. Qua tác phẩm “Gwydonius”, “The Card of Fancy” và “John Southern’s Pandora” của Robert Greene, ta có thể thấy rằng Edward de Vere có vốn kiến thức rất phong phú từ thiên văn học, tôn giáo, nghệ thuật, âm nhạc cho đến triết học, lịch sử và chính trị. Đây cũng là các chi tiết tương đồng với hàm lượng kiến thức xuất hiện trong kịch Shakespeare. Edward de Vere cũng để lại nhiều trước tác thơ và kịch rất xuất sắc, dù số lượng không nhiều nhưng đều được các học giả lớn sau này như C.S Lewis và Steven W. May đánh giá là nhà thơ hàng đầu của hoàng gia Anh.

Trailer bộ phim “Anonymous” (2011) với giả thuyết Edward de Vere chính là tác giả của kịch và thơ Shakespeare

Ảnh hưởng của William Shakespeare

Sẽ là thừa nếu lặp đi lặp lại rằng kịch Shakespeare đã đặt nền móng cho kịch nghệ và văn học phương Tây sau này. Ông đã mở rộng các khả năng mà kịch có thể biểu đạt qua cốt truyện, ngôn ngữ và thể loại. Trước ông, kịch chủ yếu dùng để truyền tải thông tin và sự kiện mà nhân vật là một phần trong đó, nhưng kịch của Shakespeare, đặc biệt là bi kịch, thực sự là một cuộc khám phá tâm trí nhân vật. Điều này có ảnh hưởng lớn đến phong trào Lãng mạn dưới thời Victoria.

Các tiểu thuyết gia lớn của phương Tây cũng không tránh khỏi việc chịu ảnh hưởng của Shakespeare, bao gồm cả Thomas Hardy, William Faulkner, Charles Dickens, Herman Melville…v…v… Các học giả đã ước tính có khoảng 20.000 khúc nhạc liên quan đến tác phẩm của Shakespeare, trong đó đáng kể phải nhắc tới hai vởi opera của Giuseppe Verdi là “Othello” và “Falstaff”. Sigmund Freud, nhà phân tâm học hàng đầu, ông tổ của ngành phân tâm học cũng đặc biệt chú ý đến khía cạnh tâm lý học trong xây dựng nhân vật của Shakespeare, đặc biệt là qua nhân vật Hamlet.

Một đóng góp ít người để ý nhất nhưng lại quan trọng nhất của Shakespeare đó là qua ngôn ngữ. Trước Shakespeare và ngay cả trong thời đại của Elizabeth 1, tiếng Anh là một ngôn ngữ lộn xộn và không thống nhất. Những lối nói do ông sử dụng trong kịch bản của mình đã góp phần định hình nên tiếng Anh hiện đại. Trong cuốn “Từ điển tiếng Anh” kinh điển của mình, Samuel Johnson đã trích dẫn William Shakespeare nhiều hơn bất cứ một tác giả nào. Cuốn từ điển này là nền tảng quan trọng nhất của tiếng Anh hiện đại.

Như vậy, mặc dù không phải là một nhà chính trị nhưng William Shakespeare đã định hình nên một nước Anh văn minh hơn và tự do hơn. Cho dù William Shakespeare là ai, có thân phận như thế nào, những vở kịch của ông đã truyền tải được những lý tưởng cao đẹp, những đam mê, những cảm xúc, nhưng tri thức làm thay đổi một nước Anh hỗn loạn lúc bấy giờ. Kịch Shakespeare là những tác phẩm kinh điển hàng đầu không chỉ các trí thức mà các học sinh đều cần phải đọc và hiểu để hình thành nên tư duy ngôn ngữ và chiều sâu tâm lý, tư tưởng ở mỗi cá nhân.

Gia Linh

Học viên của lớp HỌC TIẾNG ANH QUA VĂN CHƯƠNG ANH MỸ


Tham khảo Online Workshop HỌC TIẾNG ANH QUA VĂN CHƯƠNG ANH MỸ

Link đăng kýhttp://foxstudy.info/shop/hoc-tieng-anh-qua-van-chuong-anh/

Chia sẻ
admin
Tiếng Anh học thuật được tạo ra nhằm cung cấp một kênh thông tin giúp cho các bạn học viên thực sự muốn tiếp cận được với ngôn ngữ Anh ở nhiều cấp độ. Tiếng Anh sẽ được cảm nhận qua các áng văn chương Anh kinh điển, các bộ phim hay cũng như qua các khoá học về ngữ âm, ngữ pháp. Hãy tìm hiểu Tiếng Anh học thuật tại www.tienganhhocthuat.info
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *